Tác phẩm
Câu chữ là nơi khí phách còn vang.
Đọc thơ, văn tế và tuồng để nhận ra một trí tuệ trào phúng, một nỗi đau thời cuộc và một tâm thế kẻ sĩ.
Di cảo văn chương
Đọc những cánh cửa thời gian.
Thư viện tác phẩm trình bày nguyên văn các văn bản đã được tuyển chọn, giữ xuống dòng để người đọc tiếp cận như một trang đọc.
Tuồng
01Kịch bản hát bộiKim Thạch kỳ duyên
Mục này hiện đang lưu giữ bản tóm lược cốt truyện và hoàn cảnh ra đời; văn bản toàn văn đang được đối chiếu với tư liệu gốc tại Thư viện TP. Cần Thơ trước khi công bố.
Ẩn dưới bối cảnh Bắc Tống là một cách nhìn về xã hội bất công và những thế lực lạm quyền. Nhân vật Thạch Vô Hà gợi liên tưởng đến người phụ nữ kiên cường đã cứu chồng khỏi án oan.
Văn
01Văn tế vợVăn tế Nguyễn Thị Tồn
Hỡi ơi! Xưa nay đặng mấy người trọn vẹn, phận sắc tài hằng phải luỵ cái thân; Vợ chồng mà ghe nỗi mặn nồng, cơn sanh tử ỷ khôn ngăn giọt lệ. Từ thuở bậu vầy duyên can hệ, may mắn nhờ đủ mẹ đủ cha, thời em nâng niu dâng quỳ xẻ áo, thảo mẹ cha không nửa khắc lãng xoa; Từ ngày anh mắc chốn gian truân, tơi bời có một vợ một chồng, thời em đặng đột buôn tảo bán tần, niềm chồng vợ ấy cũng đã phu phỉ. Rất họ hàng còn cũng biết thương; Huống trời đất có đâu chẳng nghĩ. Ơn vũ lộ lộng khơi mà bủa xuống, tay chống chở đổi làm đồng vác, khi ấy hãy mang con trong dạ, bận bịu xin theo chốn sa trường; Cuộc phong lôi tin tức hãy chưa thông, quế phi dung luống chịu nắng mưa, con trứ đành bồng trẻ xuống thuyền, lặn mọc quyết tầm nơi chiến địa. Hiệp tan khi ấy rất gay go; Ân ái đoạn này thêm thấm thía. Hay đâu nỗi dây oán thù lại kết, anh vớ thử tay con tạo hoá, dầu những cánh trùng gan chuột, một chút nào nghĩ dạ Trang sinh; Bỗng phút chốc buồm tình ái kịp buông, anh lo vì gánh nặng cang thường, chi sờn vuốt biển nanh trời, chín tầng quyết trắng mình Trương thị! Nơi kinh quốc ba hồi trống gióng, biện bạch này oan nọ ức, đáng hiền lương mắt thấy thảy đau lòng; Giữa tính đường lẽ chánh lời nghiêm… đứa bạn đảng tai nghe đều hết vía. Líu lo tuy cuộc thế chưa xong; Trọn vẹn ỷ vì chồng khốn ví. Lúc anh vụt về thăm cha mẹ, để lời dặn em đừng rủn chí, việc ở ăn lo đà sẵn cả, mới trở lưng xuống bến sụt sùi; Nay sao đành bỏ cả chồng con, nghe đặng tin anh xiết kinh hoàng, nỗi tới lui không biết dường bao, luống ngửa mặt lên trời van vỉ. Cây dương liễu là tên ly biệt, trời dành cho em những điều tài sắc, mà mong sửa cuộc đoàn viên; Huê phù dung là giống đoạn tràng, trời sắm cho em những miếng thanh danh, mà mỡ báo nền phước lý. Anh để nàng chẳng bằng tiền bằng của, mà bằng cái tư lương; Anh giết nàng chẳng bằng gươm bằng đao, mà bằng cái khổ luỵ. Ôi! Gương ân ái không mài mà lẻm lẻm, người ta mặn nồng chồng vợ, bao đành dứt mối tình duyên; Ngựa quang âm không dậm bỗng đùng đùng, người ta mắc cuộc tai nàn, sao nỡ dứt đường sinh tử. Phụng lìa đôi chếch mác, đừng nói sửa sang giềng mối, khi túng thiếu manh quần tấm áo, biết lấy ai mà cậy nhờ; Gà mất mẹ chít chiu, đừng nói nhắc biểu học hành, khi lạt thèm miếng bánh đồng hàng, biết theo ai mà thỏ thẻ. May nhờ có ngoại gia nương cậy, sống đặng nhờ thác cũng đặng nhờ; Luống trông cho cuộc thế xong xuôi, sớm chẳng thấy mai đều chẳng thấy. Phải chi em chưa thoát nơi trần tục, nỗi oán thù sớm đặng sạch chùi; Phải chi em chưa lên chốn non tiên, đứa bạn đảng dám đâu lừng lẫy! Phước nhà đặng rảnh mình cao sĩ, vượt mấy sông em dắt chút mẹ già; Màn loan sao vắng dạng tiên nga, vầy một ngõ anh khóc cùng ba trẻ. Thơ từ biệt anh ngâm vài chập, đặng tỏ qua tấm dạ bi thương; Rượu chung tình anh rót vài ly, ngỏ cùng bậu tất lòng chung thuỷ.
Bài văn tế đặt nghĩa phu thê và sự hy sinh của Nguyễn Thị Tồn vào trung tâm, đồng thời để người chồng tự nhận phần bất lực và day dứt của mình.
02Văn tế con gáiVăn tế con gái
Mục này hiện đang lưu giữ bản tóm lược cốt truyện và hoàn cảnh ra đời; văn bản toàn văn đang được đối chiếu với tư liệu gốc tại Thư viện TP. Cần Thơ trước khi công bố.
Bài tế gây ấn tượng bởi giọng kể gần với lời nói Nam Bộ, không che giấu hoảng loạn, thương nhớ và nỗi đau của một gia đình nghèo.
Thơ
01Thơ Nôm vịnh vậtVịnh Cây Vông
Uổng sanh trong thế mấy thu đông? Cao lớn làm chi vông hỡi vông? Da thịt càng già, già lộp xộp, Ruột gan chẳng có, có gai chông. Rường soi cột trổ chưa nên mặt, Giậu mỏng rào thưa phải dụng lòng. Mới biết cây nào sanh giống nấy, Xuân qua bớn tớn cũng đơm bông.
Thơ vịnh vật cho thấy cách Bùi Hữu Nghĩa mượn cảnh sắc quen thuộc của Nam Bộ để nói chuyện quan trường và đạo làm người.
02Thơ Nôm vịnh vậtVịnh Cây Bần
Cao lớn làm chi bần hởi bần? Uổng sanh trong thế đứng chần ngần! Lá xanh tợ liễu, nhành thưa thớt, Bông bạc dường mai, nhuỵ sượng sần. Quyến luyến bầy cò theo sập sận, Chiêu quy đoàn khỉ tới dần lân. Rường soi cột trổ chưa nên mặt, Cao lớn làm chi bần hởi bần.
Hình ảnh bầy cò, đoàn khỉ và thân cây không thể làm rường cột tạo nên giọng trào phúng sắc, gần với đời sống sông nước.
03Thơ ngụ ngôn lịch sửQuan Công thất thủ Hạ Bì
Hạ Bì ngày nọ chẳng màng nào, Gươm rụng (Gương sáng chi lầm) thời ta dụng (túng) chước thao. Chén rượu anh em keo gắn chặt, Tấm gương (Tấm son) tôi chúa đuốc dong (chong) cao. Theo rồng chẳng phụ mây trời Hán, Dưới ngựa đâu tham bạc đất Tào (Xuống ngựa đâu tham...). Trọng đạo cương thường vai gánh nặng, Ngàn dặm thơm để miệng người rao (Ngàn năm thơm để...).
Nhân vật lịch sử trở thành tấm gương tự thuật: dù bị dồn vào thế khó, người kẻ sĩ vẫn không khuất phục trước lời mua chuộc.
04Thơ tự thuậtThu Cảm và Tự Thuật
Thu Cảm Thu vũ liên hà giáp ngạn phồn, / Ngư ca ái ái náo tiền thôn. Thiên biên nhất nhất hoành không lộ, / Giang thượng song song phá lãng đồn. Cao thọ loạn dao phong tự chiến, / Lạc hoa bất tụ thuỷ như bôn. Biên chu nhất trạo tri hà vãng, / Tháp thượng đàm tâm tửu mãn tôn. Tự Thuật kỳ 1 Tu mi thôi ngã lão, / Can phủ hướng thuỳ trần? Vọng trị đồng xuân nhật, / Đoan cư lại Bắc thần. Hôn mai phong kỷ độ, / Bành bái vũ kinh tuần. Thế lộ nê đồ thậm, / Cuồng ca thả ẩm tần. Tự Thuật kỳ 2 Vũ như thiên tự lậu, / Triều trướng thuỷ như bôn. Thế lộ nê đồ thậm, / Viên trung thảo mãn phồn. Văn lôi huyên chẩm điếm, / Oa cổ náo hoàng hôn. Sương mấn thương trì mộ, / Tiêu sầu tửu nhất tôn.
Bên cạnh tiếng cười trào phúng và lời thơ yêu nước, di cảo còn cho thấy một Bùi Hữu Nghĩa đời thường, biết tự vấn và tìm cách giữ mình.
05Thơ nhàn chíThú câu cá
Danh lợi màng bao chốn cửa hầu, Thanh nhàn quen thú một nghề câu. Giăng đường chỉ mảnh dòng khơi lộng (rộng), Thả miếng mồi thơm vực cạn sâu. Khói nước Ngũ hồ tình cả đẹp, Gió trăng kho cũ cảnh riêng mầu. Bá vương hội cả dầu chưa gặp, Thao lược này ai biết đặng đâu?
Sau khi từ quan, ông không biến mất khỏi đời sống; sự lui về quê mở trường, bốc thuốc và giữ khí tiết là một lựa chọn có ý thức.
Lịch sử
01Thơ kháng PhápThời cuộc
Anh hùng sáu tỉnh thiếu chi đây, Đâu để giang sơn đến thế này. Ngọn lửa Tam Tần phừng đất cháy, Chòm mây Ngũ quý lấp trời bay. Hùm nương non rậm toan chờ thuở, Cáo loạn vườn hoang thác có ngày. Một góc cảm thương dân nước lửa, Đền Nam trụ cả dễ lung lay!
Tác phẩm là tiếng nói phản bác thái độ đầu hàng, đặt vận nước và trách nhiệm của kẻ sĩ trước một thời kỳ biến động.
02Thơ kháng PhápAi xui Tây đến
Ai khiến thằng Tây tới vậy à? (cà?) Đất bằng bỗng chốc nổi phong ba. Nam Kỳ chi thiếu người trung nghĩa, Báo quốc cần vương dễ một ta (hà một ta).
Cách dùng khẩu ngữ khiến bài thơ có sức trực diện; tinh thần cứu nước được nói bằng giọng điệu ngắn, mạnh và dễ nhớ.
03Thơ thời cuộcQua Hà Âm cảm tác
Mịt mù (Mịt mịt) mây đen kéo tối sầm (dầm), Đau lòng thuở nọ chốn Hà Âm. Đống xương vô định sương phau trắng, Vũng máu phi thường cỏ nhuộm thâm. Gió trốt dật dờ nơi chiến lũy, Đèn trời leo lét dặm u lâm. Nghĩ thương con tạo sao dời đổi, Dắng dỏi đêm trường tiếng dế ngâm.
Đây không chỉ là thơ chống giặc mà còn là cái nhìn nhân đạo của một chứng nhân trước cảnh nước mất nhà tan.
Nguồn tham khảo: Thư viện TP. Cần Thơ và các tư liệu nghiên cứu về Bùi Hữu Nghĩa. Toàn văn cần được đối chiếu với bản in trước khi công bố.